Thứ Bảy, 21/10/2017
Chào mừng đến với trang thông tin điện tử Trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Nguyên
TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI ĐOÀN THÁNG 4 NĂM 2017 - KỶ NIỆM 42 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC 30.4.1975 - 30.4.2017
19/4/2017 13:38' Gửi bài này In bài này

Small huy hieu doan

TỈNH ĐOÀN

THÁI NGUYÊN

TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI ĐOÀN

Tháng 4/2017


Kỷ niệm 42 năm Ngày giải phóng miền Nam,

thống nhất đất nước 30.4.1975 - 30.4.2017

 

Hình chữ nhật góc tròn: TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

 

 

 

 


Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng

hoàn toàn miền Nam

 

Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết, Mỹ buộc phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Song, chúng không từ bỏ âm mưu xâm lược Việt Nam, tiếp tục viện trợ, tạo điều kiện cho chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định Pari.

Mỹ ra sức xây dựng quân đội ngụy Sài Gòn thành một đội quân tay sai “mạnh nhất ở Đông - Nam á”, với số quân trên 1 triệu 10 vạn tên, được tổ chức thành 4 quân đoàn gồm 13 sư đoàn và nhiều lữ đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, với 1.850 máy bay các loại, 1.588 khẩu pháo, 2.074 xe tăng, 1.611 tàu chiến; với hàng triệu tấn vật tư chiến tranh được đưa vào miền Nam trước và sau khi ký Hiệp định Pari. Ngoài ra còn có lực lượng bảo an, dân vệ được trang bị đầy đủ. Chúng liên tiếp đưa ra nhiều kế hoạch chiến tranh với mục tiêu trong 3 năm (từ 1973-1975), chiếm hết tất cả các vùng giải phóng và đặt toàn bộ miền Nam dưới quyền kiểm soát của chúng.

Sau Hiệp định Pari, ở miền Nam Việt Nam đã hình thành hai vùng kiểm soát, hai quân đội, hai chính quyền. Lực lượng vũ trang cách mạng đang đứng vững trên các địa bàn chiến lược quan trọng. Uy tín của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế. Hội nghị cấp cao của gần 80 nước Không liên kết họp tại Angiê, tháng 9-1973 đã công nhận Cộng hoà miền Nam Việt Nam là thành viên chính thức của Phong trào Không liên kết, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời là người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Về phía địch, sau khi rút khỏi miền Nam, đế quốc Mỹ đã lún sâu vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Nước Mỹ chìm ngập trong“cuộc khủng hoảng lòng tin”, kinh tế bị suy thoái, nạn lạm phát và nạn thất nghiệp tăng, xã hội bị rối loạn, nội bộ chính quyền và các đảng phái bị chia rẽ sâu sắc. Vụ bê bối Oatơghết lại càng đẩy nước Mỹ vào cảnh bi đát. Níchxơn buộc phải từ chức Tổng thống Mỹ. Viện trợ quân sự của Mỹ cho nguỵ quyền Sài Gòn đã bị cắt giảm dần, từ 1.614 triệu USD năm 1972-1973, phải giảm xuống 1.026 triệu USD năm 1973-1974 và 701 triệu USD năm 1974-1975.

Ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu vấp phải những khó khăn chồng chất không thể khắc phục được. Đạn thiếu, hoả lực chi viện giảm gần 60%, máy bay, xe tăng và nhiên liệu thiếu, sức cơ động giảm 50% buộc Thiệu phải kêu gọi quân ngụy chuyển sang tác chiến theo“kiểu con nhà nghèo”. Chiến lược “chiến tranh diện địa” với mục đích “bảo vệ đến mức tối đa an ninh lãnh thổ” làm cho lực lượng của địch dàn ra trên những địa bàn quá rộng. Với thế trận bố trí phân tán như vậy, quân địch không thể chống đỡ nổi sức mạnh tiến công và nổi dậy đều khắp của quân và dân miền Nam trên các chiến trường.

Tháng 7-1973, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xác định nhiệm vụ cách mạng miền Nam sau khi Hiệp định Pari được ký kết. Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: “Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là: Đoàn kết toàn dân, đấu tranh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao một cách chủ động, linh hoạt, tuỳ theo từng lúc, từng nơi mà kết hợp ba mặt đấu tranh buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pari về Việt Nam, đồng thời chuẩn bị khả năng tiến lên phản công để giành thắng lợi hoàn toàn”.

Nghị quyết nhấn mạnh: bất kể trong tình huống nào con đường giành thắng lợi của cách mạng miền Nam cũng là con đường bạo lực, do đó phải nắm vững chiến lược tiến công.

Trong hai năm 1973-1974, quân và dân miền Nam đã đánh bại hầu hết các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, đẩy địch vào thế phòng ngự bị động, phải co về giữ các vùng đô thị và đường giao thông quan trọng.

Cho đến cuối năm 1974, tình hình đã có những chuyển biến căn bản. Những điều kiện cho việc giải phóng hoàn toàn miền Nam đang chín muồi. Lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân đã lớn mạnh không ngừng về số lượng và chất lượng. Những binh đoàn cơ động gồm nhiều binh chủng hợp thành ra đời, đã tạo nên những quả đấm mạnh và những mũi nhọn sắc trên các địa bàn chiến lược quan trọng. Các lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam đang giữ quyền chủ động tiến công địch trên chiến trường, không những có thể đánh bại được kế hoạch “bình định” lấn chiếm mà còn có sức mở ra những chiến dịch lớn, tiêu diệt những binh đoàn lớn của địch, giải phóng được nhiều vùng đất rộng, đông dân, cả ở vùng đồng bằng và thành phố. Những mạng đường vận tải chiến lược và chiến dịch dài hơn 2 vạn ki lô mét, chạy dọc dải Trường Sơn đến tận vùng Đông Nam Bộ và các chiến trường, những khối lượng rất lớn lương thực, vũ khí, xăng dầu, trang bị được vận chuyển vào chiến trường bảo đảm nhiệm vụ hậu cần cho cuộc chiến tranh giải phóng cuối cùng. Thành tích khôi phục kinh tế trong 2 năm 1973-1974 tạo cho nhân dân miền Bắc khả năng chi viện cao về người và của. Phong trào đấu tranh chính trị ở các vùng đô thị miền Nam đòi đánh đổ chế độ phát xít hiếu chiến độc tài Nguyễn Văn Thiệu, đòi hoà bình, độc lập, dân chủ, dân sinh phát triển mạnh.

Trước tình hình mới, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp tháng 10-1974 và tháng 1-1975 quyết định mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976, và dự kiến nếu thời cơ đến sớm sẽ giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giành được thắng lợi vang dội đầu tiên bằng Chiến dịch Tây Nguyên (từ 10-3-1975 đến 24-3-1975). Mở đầu chiến dịch này là cuộc tiến công táo bạo, bất ngờ giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột (11-3-1975). Bị choáng váng và sau khi các cuộc điều quân phản kích hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột đều bị đánh bại, ngày 14-3-1975, Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tổng tham mưu ngụy đã hốt hoảng đi tới quyết định rút khỏi các tỉnh Plâycu, Kon Tum. Cuộc rút quân của địch đã biến thành cuộc tháo chạy hỗn loạn. Đến ngày 24-3-1975, vùng chiến lược Tây Nguyên rộng lớn với hơn 60 vạn đồng bào các dân tộc đã được giải phóng, 12 vạn quân địch đã bị tiêu diệt.

Sau thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên là thắng lợi của chiến dịch Huế-Đà Nẵng (từ 19 đến 29-3-1975).

Từ lúc chiến dịch Tây Nguyên mở đầu, quân và dân Trị-Thiên đã phối hợp hoạt động mạnh, tiến công và nổi dậy ở nhiều nơi. Ngày 19-3-1975 toàn bộ tỉnh Quảng Trị được giải phóng. Tiếp đó, quân và dân Thừa Thiên-Huế đã hình thành thế bao vây Huế bằng nhiều mũi và khống chế chặn đường rút chạy ra biển và vào Đà Nẵng. Ngày 24-3, Tam Kỳ và Quảng Ngãi được giải phóng. Ngày 26-3-1975, các lực lượng vũ trang nhân dân đã tiến hành hợp vây và cùng với đông đảo lực lượng quần chúng cách mạng nổi dậy tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên-Huế gồm 4 vạn tên địch, làm chủ thành phố Huế và toàn bộ tỉnh Thừa Thiên.

Ngày 28-3-1975, pháo binh quân giải phóng mở đầu cuộc tấn công giải phóng Đà Nẵng bằng đòn tập kích hoả lực mãnh liệt vào các vị trí quân sự địch trong thành phố và bán đảo Sơn Trà. Từ các hướng bắc, tây bắc, tây nam và đông nam, các binh đoàn thọc sâu có xe tăng dẫn đầu đã ào ạt tiến vào trung tâm thành phố. Cuộc tiến công Đà Nẵng của các binh đoàn chủ lực, kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nổi dậy đúng lúc kịp thời đã kết thúc sau 33 giờ chiến đấu giành thắng lợi rực rỡ, giải phóng Đà Nẵng-thành phố lớn thứ hai ở miền Nam-tiêu diệt và làm tan rã hơn 10 vạn quân địch, trong đó có cơ quan Bộ tư lệnh quân đoàn 1 ngụy, đập nát căn cứ liên hợp quân sự mạnh nhất của địch ở miền Trung. Quân khu 1 ngụy bị xoá sổ. Kế hoạch co cụm chiến lược hòng giữ vùng đồng bằng ven biển của địch vừa triển khai đã bị đập tan.

Thắng lợi của chiến dịch Huế-Đà Nẵng và của chiến dịch Tây Nguyên, cùng những thắng lợi trên khắp chiến trường đã đẩy quân địch vào tình thế tuyệt vọng, tinh thần bị suy sụp, tổ chức bị tan rã, chiến lược bị bế tắc. Chính đế quốc Mỹ cũng phải thừa nhận rằng, đây là những đòn hiểm không có cách gì chống đỡ và không có phép gì hồi phục được. Tuy nhiên, với bản chất cực kỳ phản động và ngoan cố, Mỹ-ngụy vẫn tìm mọi cách cố thủ.

Dưới sự đôn đốc của tướng Mỹ Uâyen và với một khối lượng vũ khí do Mỹ viện trợ cấp tốc bằng một cầu hàng không mới từ Băng Cốc (Thái Lan) sang, chúng gấp rút xây dựng phòng tuyến từ Phan Rang trở vào, hòng cố giữ đến mùa mưa, và đề ra một kế hoạch khẩn trương củng cố và tăng cường lực lượng để chuẩn bị cho những trận đọ sức mới. ở khu vực Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng, địch bố trí những lực lượng lớn khống chế các đường dẫn vào thành phố; trên mọi hướng dày đặc các sư đoàn, lữ đoàn bộ binh, các đơn vị thiết giáp, lính dù,v.v...Chúng còn đặt những vật chướng ngại ngăn cản bộ binh, xe tăng quân giải phóng và huy động 3 sư đoàn không quân trực tiếp chi viện.

Tiếp theo cuộc họp ngày 25-3-1975, trong đó có nêu nhiệm vụ cụ thể giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa, ngày 31-3-1975, Bộ Chính trị đã họp nhận định: cuộc Tổng tiến công chiến lược đã giành được thắng lợi cực kỳ to lớn, tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 2 quân đoàn, giải phóng 16 tỉnh, đưa số nhân dân vùng giải phóng lên 8 triệu; thời cơ chiến lược tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã hoàn toàn chín muồi. Cần có quyết tâm lớn hoàn thành trận quyết định chiến lược cuối cùng tốt nhất trong tháng tư năm 1975. Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Bộ chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận Sài Gòn do một tập thể các ủy viên Bộ Chính trị tại chiến trường (Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng) lãnh đạo, chỉ đạo. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng, trực tiếp làm Tư lệnh Bộ chỉ huy chiến dịch. Ông Phạm Hùng làm Chính ủy. Trước đó, ngày 25-3-1975, Hội đồng chi viện chiến trường đã được thành lập, do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch.

Bộ Chính trị cũng đã quyết định tiến hành chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 9-4 đến ngày 30-4-1975).

Từ đầu tháng 4-1975, các binh đoàn chủ lực trên đường hành quân tiến về Sài Gòn đã đánh địch, giải phóng Phan Rang, Bình Thuận, Bình Tuy, Xuân Lộc, đánh chiếm Bà Rịa. Ngày 26-4-1975, cuộc tiến công lớn vào Sài Gòn bắt đầu. Những trận chiến đấu quyết liệt và những trận bão lửa dữ dội diễn ra trước hết ở hướng đông là hướng địch tập trung nhiều lực lượng và tổ chức chống cự rất điên cuồng. Từ khắp các hướng, năm cánh quân lớn phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương và được sự giúp sức của quần chúng nổi dậy, nhất loạt tấn công địch với sức mạnh vũ bão. Từ ngày 26 đến ngày 28-4, một bộ phận quan trọng lực lượng địch trên tuyến phòng thủ vòng ngoài bị tiêu diệt. Các binh đoàn chủ lực của quân giải phóng xiết chặt vòng vây xung quanh Sài Gòn.

Hoảng sợ trước nguy cơ sắp bị tiêu diệt hoàn toàn, từ ngày 18-4-1975, Tổng thống Mỹ G.Pho ra lệnh di tản gấp người Mỹ ở Sài Gòn bằng một lực lượng không quân và hải quân Mỹ.

Ngụy quyền tay sai, sau khi Trần Văn Hương lên thay Thiệu (21-4) rồi Dương Văn Minh lên thay Hương (28-4) đã thực sự lâm vào cảnh tuyệt vọng.

Ngày 30-4, với sự hiệp đồng chiến đấu rất anh dũng của các lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, các lực lượng biệt động, tự vệ vùng ven và nội đô, cùng với sự nổi dậy đều khắp và rất kịp thời của quần chúng trong và ngoài thành phố, các cánh quân hùng mạnh đã thần tốc thọc sâu, tiến thẳng vào chiếm các mục tiêu quan trọng trong thành phố Sài Gòn-Gia Định: Dinh Độc lập (tức Phủ Tổng thống ngụy), Bộ Tổng tham mưu và Khu Bộ tư lệnh các binh chủng của địch, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh, Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát. Nhân dân thành phố Sài Gòn hân hoan chào đón các lực lượng vũ trang, con em của mình và cùng bộ đội truy lùng địch, tước vũ khí của chúng, dẫn đường cho bộ đội, bảo vệ các cơ sở kinh tế và văn hoá. Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện.

Đúng 11 giờ 30 ngày 30-4-1975, lá cờ Cách mạng được cắm trên nóc Dinh Độc lập. Đây là thời điểm đánh dấu thành phố Sài Gòn-Gia Định hoàn toàn giải phóng. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

Trên đà chiến thắng, từ ngày 30-4-1975, đồng bào và chiến sĩ các tỉnh Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long đã đồng loạt tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, lần lượt giải phóng các tỉnh còn lại. Ngày 1-5-1975, toàn bộ lãnh thổ đất liền miền Nam đã được giải phóng.

 

 
Đánh chiến căn cứ không quân Tân Sơn Nhất (30-4-1975).

Xe tăng của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếm Dinh Độc lập (30-4-1975).


Tổng thống Ngụy Quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện

(30-4-1975).

 

Cùng với các tỉnh ở đất liền, ngày 30-4-1975, các chiến sĩ yêu nước bị địch giam giữ ở đảo Côn Sơn nổi dậy làm chủ hoàn toàn đảo này. Ngày 2-5-1975, quân giải phóng phối hợp cùng nhân dân tiến công và nổi dậy, giành quyền làm chủ hoàn toàn đảo Phú Quốc. Trước đó, từ những ngày đầu tháng 4-1975, trong quá trình giải phóng các tỉnh miền Trung và Nam Trung Bộ, quân và dân miền Nam đã giải phóng một loạt các đảo ở dọc bờ biển. Ngày 14-4, Quân khu 5 phối hợp với Bộ tư lệnh Hải quân giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa do quân ngụy Sài Gòn chiếm giữ.

Trải qua 55 ngày đêm chiến đấu thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, quân và dân Việt Nam đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn đội quân nguỵ gồm hơn 1 triệu tên, thu toàn bộ vũ khí, phương tiện chiến tranh và các căn cứ quân sự Mỹ-ngụy, đập tan bộ máy ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, xoá bỏ ách thống trị thực dân mới của Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Tiếp theo chiến công vĩ đại “đánh cho Mỹ cút”, quân và dân Việt Nam đã thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “đánh cho ngụy nhào”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ngày 15-5-1975, trên toàn miền Nam đã diễn ra các cuộc mít tinh, diễu hành mừng chiến thắng. ở Sài Gòn, hàng triệu nhân dân đã xuống đường và tham dự cuộc mít tinh lịch sử. Chủ tịch Tôn Đức Thắng và Đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng đã có mặt trong cuộc mít tinh trọng thể tại Sài Gòn.

Trong bài diễn văn đọc tại buổi lễ mừng chiến thắng sáng 15-5-1975, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã kêu gọi công nhân, nông dân, các nhà trí thức và đồng bào miền Nam hãy nêu cao tinh thần làm chủ, lao động sáng tạo, xây dựng đất nước, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Ngày 6-8-1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra Tuyên bố nêu rõ Cộng hoà miền Nam Việt Nam xúc tiến việc tìm kiếm và khai thác dầu mỏ trên lãnh thổ của mình và sẵn sàng thảo luận với Chính phủ và các công ty nước ngoài muốn tham gia việc này.

Ngày 10-9-1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời ra Tuyên bố về một số chính sách khôi phục và phát triển kinh tế công thương nghiệp, bài trừ hành động lũng đoạn đầu cơ tích trữ, phá rối thị trường của bọn tư sản mại bản.

Ngày 22-9-1975, hoàn thành việc thu đổi tiền“Chính quyền Sài Gòn cũ”, phát hành tiền Ngân hàng Việt Nam trên toàn miền Nam.

Từ ngày 20 đến ngày 22-12-1975, Hội nghị Đại biểu nhân dân miền Nam đã họp tại thành phố Sài Gòn-Gia Định để nghe báo cáo và phê chuẩn kết quả Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc.

Ngày 28-1-1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời công bố chính sách khoan hồng, độ lượng đối với những binh sĩ ngụy quân, nhân viên ngụy quyền và đảng viên các đảng phái phản động đã đăng ký trình diện và học tập cải tạo tốt.

Tháng 2-1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định về việc giải thể Khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam. Theo Nghị định này, ở miền Nam có 20 tỉnh và 1 thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh. Địa giới và tên các tỉnh mới như sau: 

1- Tỉnh Bình Trị Thiên (gồm 3 tỉnh cũ là: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế).

2- Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng (gồm tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng).

3- Tỉnh Nghĩa Bình (gồm 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định cũ).

4- Tỉnh Phú Khánh (gồm 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà cũ).

5- Tỉnh Gia Lai-Kon Tum (gồm 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum cũ).

6- Tỉnh Đắc Lắc (gồm 2 tỉnh Đắc Lắc và Quảng Đức cũ).

 

 Đồng bào chiến sỹ miền Nam đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975). 


Lễ mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng tại Hà Nội (15-5-1975)


Lễ mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng tại Thành phố Sài Gòn (15-5-1975).

7- Tỉnh Thuận Hải (gồm 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy cũ).

8- Tỉnh Lâm Đồng (gồm 2 tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng cũ và thành phố Đà Lạt).

9- Tỉnh Đồng Nai (gồm 3 tỉnh Bà Rịa, Long Khánh và Biên Hoà cũ).

10- Tỉnh Sông Bé (gồm 2 tỉnh Thủ Đầu Một và Bình Phước cũ).

11- Tỉnh Long An (gồm 2 tỉnh Long An và Kiến Tường cũ).

12- Tỉnh Tiền Giang (gồm 2 tỉnh Mỹ Tho và Gò Công cũ và thành phố Mỹ Tho).

13- Tỉnh Cửu Long (gồm 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh cũ).

14- Tỉnh Hậu Giang (gồm 2 tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng cũ và thành phố Cần Thơ).

15- Tỉnh Đồng Tháp (gồm 2 tỉnh Sa Đéc và Kiến Phong cũ).

16- Tỉnh An Giang (gồm một số huyện của tỉnh Long Châu Hà, hai huyện của tỉnh Long Châu Tiền, một huyện của tỉnh Sa Đéc và toàn bộ tỉnh An Giang cũ trước chia ra nay nhập lại giữ tên An Giang).

17- Tỉnh Kiên Giang (gồm tỉnh Rạch Giá và ba huyện của tỉnh Long Châu Hà cũ).

18- Tỉnh Minh Hải (gồm 2 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu cũ).

19- Tỉnh Tây Ninh.

20- Tỉnh Bến Tre.

 


Đoàn đại biểu nhân dân miền Bắc, dô ông Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, làm trưởng đoàn, vào Thành phố Sài Gòn dự Hôi nghị Hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc (11-1975).

Trang thông tin Chính phủ nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam

 

 

Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn (7/4/1907-7/4/2017):

Tư duy sáng tạo, tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư Lê Duẩn với cách mạng Việt Nam

Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm vùng kinh tế mới An Hạ, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh (8/1982). Ảnh tư liệu TTXVN

Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm vùng kinh tế mới An Hạ, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh (8/1982). Ảnh tư liệu TTXVN

Nhân kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn (07/4/1907 - 07/4/2017), GS. TS. Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam có bài viết “Tư duy sáng tạo, tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư Lê Duẩn với Cách mạng Việt Nam”.

       Tổng Bí thư Lê Duẩn - Anh Ba, như cách gọi trìu mến và kính trọng của đồng chí, đồng bào - là một trong những chiến sĩ cách mạng tiền bối kiên cường, nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, một trí tuệ lớn, tài năng lớn của cách mạng Việt Nam, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 
        Gần 60 năm hoạt động liên tục, được tôi luyện trong thực tiễn cách mạng trên cả ba miền đất nước, với tư duy sáng tạo, tầm nhìn xa, trông rộng rất đặc biệt, gắn kết chặt chẽ với tổng kết thực tiễn, đồng chí Lê Duẩn đã cùng tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, xây dựng và lãnh đạo thực hiện thắng lợi đường lối, chiến lược cách mạng đúng đắn, góp phần làm phong phú lý luận của cách mạng Việt Nam, viết nên những trang sử chói lọi, hào hùng trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, đưa nước nhà vững bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. 

         Sinh thời, đồng chí Lê Duẩn hay nhắc tới luận điểm nổi tiếng của V.I. Lê-nin “chân lý là cụ thể” và cho rằng “cách mạng là sáng tạo”. Trong kho tàng tư tưởng lý luận của Tổng Bí thư Lê Duẩn, tư duy sáng tạo, độc lập, tự chủ, tầm nhìn chiến lược hết sức sâu sắc của đồng chí trong tiến trình phát triển và trước những tình huống phức tạp của cách mạng, nhất là trong các giai đoạn có tính quyết định của lịch sử, là di sản vô cùng quý báu đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcvà hội nhập quốc tế. 

          Tư duy sáng tạo, tầm nhìn chiến lược của đồng chí Lê Duẩn được thể hiện từ rất sớm, tiêu biểu là những đóng góp xuất sắc của đồng chí cùng với Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ vào thành công của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (tháng 11-1939), Hội nghị mở đầu quá trình chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam. Hội nghị nhận định: “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy độc lập” [1]. Dựa trên sự chuyển hướng chiến lược cách mạng, Hội nghị đã chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, sớm thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương nhằm đánh đổ chế độ thuộc địa dã man, tàn bạo. 

           Trên cương vị Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, do không dự được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng vào tháng 2-1951, đồng chí Lê Duẩn đã đóng góp nhiều nội dung quan trọng với Đại hội về giai cấp vô sản và Đảng Cộng sản; về vị trí, vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản trong cách mạng Việt Nam; về vị trí, vai trò của nông dân trong cách mạng vô sản Việt Nam; về chiến tranh nhân dân; về chính sách kinh tế; về chính trị và chính quyền.

         Bằng những luận cứ hết sức vững chắc cả về lý luận và thực tiễn, Đồng chí đã phân tích sâu sắc, khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản trong cách mạng Việt Nam và nêu rõ: “Không hiểu rõ những đặc điểm cách mạng Việt Nam, nhận xét giai cấp vô sản Việt Nam tách rời phong trào cách mạng vô sản thế giới, tách rời tình hình cụ thể về chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và quá trình chuyển biến của phong trào giải phóng dân tộc qua các thời kỳ, thì chúng ta sẽ không đánh giá một cách đầy đủ vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản đối với cách mạng Việt Nam”. 

          Những ý kiến đóng góp của đồng chí Lê Duẩn đã góp phần quan trọng để Đại hội lần thứ II của Đảng đề ra đường lối chiến tranh nhân dân, lãnh đạo toàn dân ta đánh thắng thực dân Pháp và can thiệp Mỹ mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Trong những năm tháng vô cùng gian khổ dưới chế độ độc tài Mỹ - Diệm, bị địch khủng bố ác liệt, Đồng chí vừa chỉ đạo củng cố phong trào, xây dựng cơ sở cách mạng, vừa trăn trở, tìm tòi, suy nghĩ về con đường đưa cách mạng miền Nam tiến lên. 

          Với tư duy và tầm nhìn của một nhà chiến lược lớn, tác phẩm “Đề cương cách mạng miền Nam” nổi tiếng của đồng chí Lê Duẩn viết trong thời gian đó đã phân tích, đánh giá sâu sắc, dự báo chính xác tình hình miền Nam sau hai năm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đề ra mục đích, nhiệm vụ và đối tượng của cách mạng miền Nam: “Trong hoàn cảnh đó, nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống lại Mỹ - Diệm để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó, không có con đường nào khác

         Chủ trương kết hợp nhuần nhuyễn đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, hậu phương lớn gắn với tiền tuyến lớn, phối hợp chặt chẽ giữa ba vùng chiến lược (rừng núi, đồng bằng, đô thị) tạo thành sức mạnh to lớn của cả dân tộc, đã dấy lên niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Đề cương là cơ sở quan trọng để Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng) “Về tăng cường đoàn kết, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà”, trong đó khẳng định “Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến”. 

          Nghị quyết đã phản ánh đúng đắn nguyện vọng của đồng chí, đồng bào cả nước, đặc biệt là khát vọng nóng bỏng của đồng chí, đồng bào miền Nam về chuyển sang đấu tranh vũ trang, bảo vệ thành quả cách mạng, từ đó dấy lên phong trào Đồng khởi, liên tiếp làm thất bại chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, buộc đế quốc Mỹ và tay sai phải ngồi vào bàn đàm phán với ta... 

          Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực phức tạp lúc bấy giờ, chủ trương tiến hành đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao chứng tỏ bản lĩnh chính trị kiên định của Đảng ta, trong đó có sự đóng góp thiết thực, hiệu quả của đồng chí Lê Duẩn. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (tháng 9-1960) do đồng chí Lê Duẩn trình bày là một văn kiện chính trị quan trọng, trong đó nhận định: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, nhưng do trước mắt cùng có một mục tiêu chung là thực hiện thống nhất nước nhà, cho nên quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển”. 

         Báo cáo cũng khẳng định: “Nước Việt Nam ta là một, dân tộc Việt Nam ta là một. Nhất định nước ta sẽ được thống nhất trên cơ sở độc lập và dân chủ, nhất định dân tộc sẽ được đoàn tụ trong hòa bình, tự do và hạnh phúc. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng ý chí thống nhất Tổ quốc của nhân dân cả nước ta quyết không bao giờ lay chuyển và cuối cùng chúng ta nhất định sẽ giành được thắng lợi”. Dự báo thiên tài của Đảng ta, của đồng chí Lê Duẩn đã trở thành hiện thực sau 15 năm. 

         Từ Đại hội lần thứ III của Đảng, trong suốt 26 năm, trên cương vị Bí thư thứ nhất, sau là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị hoạch định, phát triển hết sức phong phú đường lối, chiến lược, phương pháp cách mạng, đường lối, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

           Đối với phong trào cách mạng miền Nam, đồng chí Lê Duẩn - được mệnh danh là “Ông hai trăm Bu-gi” - có nhiều suy nghĩ, chủ trương, cách làm độc đáo, sáng suốt, đề xuất với Trung ương những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, giải pháp tối ưu đưa cách mạng miền Nam tiến lên vững chắc. Trong đó, nổi bật là tư tưởng chiến lược tiến công và nghệ thuật biết thắng từng bước; sử dụng bạo lực cách mạng với hai lực lượng chính trị và vũ trang; đánh địch và thắng địch bằng sức mạnh tổng hợp; đề cao lòng tự hào dân tộc và luôn phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng; xây dựng tinh thần độc lập tự chủ, đồng thời phải không ngừng giáo dục tinh thần quốc tế vô sản. 

         Trong tâm khảm đồng chí Lê Duẩn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước luôn là mệnh lệnh, lời thề thiêng liêng mà Đồng chí đã thay mặt toàn Đảng, toàn dân và toàn quân hứa trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong Lễ tang của Người năm 1969. 

          Tư duy sáng tạo, sự chỉ đạo quyết liệt của đồng chí Lê Duẩn được thể hiện và phát huy cao độ trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975. Trong bức điện gửi các đồng chí lãnh đạo Trung ương cục miền Nam ngày 9-4-1975, Đồng chí nêu rõ: “Cần bảo đảm một khi đã phát động tiến công thì phải công kích thật mạnh và liên tục, dồn dập cho đến toàn thắng; vừa tiến công ở ngoại vi, vừa nắm kịp thời cơ, thọc sâu vào trung tâm Sài Gòn từ nhiều hướng với những lực lượng đã chuẩn bị sẵn. Thực hiện từ ngoài đánh vào, từ trong đánh ra, tạo điều kiện cho đồng bào nổi dậy, không chia làm hai bước. Đó là phương án cơ bản và chắc thắng nhất. Trong tình hình hiện nay, thần tốc, táo bạo, bất ngờ là ở chỗ đó”. 

             Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đồng chí Lê Duẩn luôn chăm lo, củng cố và tăng cường đoàn kết giữa các đảng anh em, giữa các lực lượng cách mạng trên thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Những luận điểm đúng đắn của Đồng chí về phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh đấu tranh đòi dân chủ, tiến bộ xã hội, vì tự do, công lý, vì nhân phẩm và quyền sống của con người, bảo vệ hòa bình, chủ quyền dân tộc..., đặc biệt luận điểm “chúng ta cũng sẵn sàng đặt quan hệ với tất cả các nước trên thế giới tôn trọng chủ quyền và độc lập của nước ta, trên cơ sở bình đẳng và hai bên cùng có lợi”, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. 

          Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta lãnh đạo sự nghiệp thống nhất đất nước, khôi phục kinh tế sau chiến tranh, hoạch định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước, đồng chí Lê Duẩn nhận định: “Một trang sử mới vô cùng rực rỡ của Tổ quốc ta bắt đầu. Một nhiệm vụ mới vô cùng vĩ đại và làm phấn chấn lòng người đang chờ đón 45 triệu đồng bào ta là thực hiện đầy đủ Di chúc của Bác Hồ vĩ đại: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Chúng ta hãy bắt tay vào công cuộc xây dựng và lao động sáng tạo, làm cho nước Việt Nam tiến bộ, phồn vinh, nhân dân no ấm, hạnh phúc”. 

          Trong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng chí Lê Duẩn đã có những đóng góp lý luận quan trọng trong việc tìm tòi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đó là các quan điểm giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội... Đồng chí luôn coi trọng xây dựng, phát triển văn hóa, “xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, đem lại giá trị chân chính cho con người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện, trở thành chủ thể có ý thức trong sáng tạo lịch sử” . 

         Từ quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng chí Lê Duẩn luôn trăn trở, nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thường xuyên chăm lo đời sống của nhân dân: “Bây giờ trước hết phải lo cho dân có cơm ăn, áo mặc, con em phải đến trường, phải lo cho tất cả mọi người, không phân biệt “bên này, bên kia” vì ai cũng là công dân Việt Nam”. 

       Tư duy sáng tạo của Đồng chí được thể hiện rõ nét khi Đảng ta bước đầu khởi xướng quá trình đổi mới quản lý kinh tế từ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa V) “Về những nhiệm vụ cấp bách trong công tác cải tiến quản lý kinh tế”. Đồng chí khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta đã có những cố gắng to lớn khắc phục một bước cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp và xúc tiến việc hoàn chỉnh cơ chế quản lý mới nhằm thực hiện đúng những nguyên tắc quản lý kinh tế, vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất quản lý của Trung ương vừa mở rộng và phát huy quyền chủ động sáng tạo của các cơ sở, các địa phương, các ngành trong sản xuất kinh doanh, thực hiện quyền làm chủ tập thể của quần chúng lao động, khuyến khích mạnh mẽ tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế” . Cho đến cuối đời, đồng chí Lê Duẩn vẫn không ngừng trăn trở với những vấn đề cuộc sống đặt ra, suy nghĩ, tìm tòi con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với cách mạng Việt Nam. 

        Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cách mạng Việt Nam đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thực tiễn đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, kế thừa, phát huy những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của các thế hệ lãnh đạo tiền bối. Trong bối cảnh tình hình thế giới, trong nước thường xuyên biến đổi, công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, nảy sinh nhiều vấn đề mới đòi hỏi Đảng ta không ngừng nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, tiếp tục vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa cách mạng Việt Nam tiến lên, thì tư duy sáng tạo, tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư Lê Duẩn vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, là định hướng đúng đắn cho việc hoạch định và lãnh đạo thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới. 

       Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn, chúng ta thành kính tôn vinh, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về những công lao to lớn và cống hiến xuất sắc của Đồng chí với cách mạng Việt Nam và nguyện noi theo tấm gương sáng ngời của người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo kiệt xuất, suốt đời một lòng, một dạ trung thành với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc, cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân./. 

Trang thông tin Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng

 

Hình chữ nhật góc tròn: SỔ TAY NGHIỆP VỤ  

 

 


Trong tài liệu sinh hoạt chi Đoàn số 04/2017, chúng tôi xin gửi đến các bạn đoàn viên thanh niên, tổ chức Đoàn nội dung của Hướng dẫn số 126-HD/TĐTN-TCKT về công tác kiểm phiếu và kiểm tra kết quả kiểm phiếu.

I. CÔNG TÁC CHUẨN BỊ VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN KIỂM PHIẾU

1. Công tác chuẩn bị

* Chia nhóm kiểm phiếu:

Trước khi Đại hội diễn ra, căn cứ số lượng đại biểu triệu tập dự Đại hội và số lượng thành viên Ban Kiểm phiếu, Ban Tổ chức Đại hội nên dự kiến chia Ban Kiểm phiếu thành các nhóm. Mỗi nhóm từ 2 đến 3 người. Nếu mỗi nhóm có 2 người, phân công 01 người đọc kết quả, 01 người ghi kết quả. Nếu mỗi nhóm có  03 người, phân công 01 người đọc, 01 người ghi và 01 người giám sát việc đọc và ghi kết quả. Mỗi nhóm kiểm phiếu nên có 03 người để đảm bảo tính khách quan và chính xác. Nhiệm vụ của từng thành viên trong nhóm cần được phân công từ trước.

* Chuẩn bị mẫu biên bản, biểu mẫu, vật dụng cần thiết:

Để đảm bảo việc kiểm phiếu diễn ra nhanh, thuận lợi và chính xác, Ban Tổ chức cần chuẩn bị trước cho từng nhóm kiểm phiếu các biểu mẫu và vật dụng cần thiết để sử dụng cho việc thực hiện kiểm phiếu, như:

- Laptop: để cập nhật kết quả kiểm phiếu trên file word hoặc powerpoint (nếu sử dụng máy chiếu).

- Máy tính cá nhân, bút, giấy trắng, kẹp giấy hoặc túi clear bag...

- Biểu mẫu kiểm phiếu của nhóm (theo mẫu 1) và biểu mẫu tổng hợp kết quả kiểm phiếu của các nhóm (theo mẫu 2).

- Mẫu biên bản kiểm phiếu (theo hướng dẫn trong cuốn Hướng dẫn tổ chức Đại hội đoàn các cấp).

* Thống nhất phương pháp làm việc:

Trước khi diễn ra Đại hội, Ban Tổ chức cần triệu tập các thành viên dự kiến tham gia Ban Kiểm phiếu để hướng dẫn và thống nhất phương pháp làm việc của Ban Kiểm phiếu, như: Quán triệt quy định về nguyên tắc, thể lệ bầu cử; điều kiện trúng cử; phiếu hợp lệ, phiếu không hợp lệ; chia nhóm, phân công nhiệm vụ các thành viên trong nhóm; cách sử dụng các biểu mẫu, cách ghi kết quả kiểm phiếu, cách tổng hợp kết quả kiểm phiếu; quán triệt việc không gây ồn ào hoặc trao đổi các nội dung không cần thiết trong khi kiểm phiếu, tránh gây thiếu tập trung, nhầm lẫn trọng đọc và ghi kết quả kiểm phiếu...

2. Quy trình thực hiện kiểm phiếu

          - Bước 1: Trưởng Ban Kiểm phiếu và các thành viên cùng soát các phiếu bầu để loại các phiếu bầu không hợp lệ; đếm số phiếu hợp lệ, không hợp lệ và kẹp riêng phiếu không hợp lệ tránh nhầm lẫn với phiếu hợp lệ.

- Bước 2: Chia số phiếu bầu hợp lệ cho các nhóm để thực hiện kiểm phiếu. Các nhóm nhận phiếu cần ghi rõ số lượng phiếu do nhóm nhận kiểm vào biểu mẫu 1.

- Bước 3: Các nhóm tiến hành phân loại phiếu bầu đủ, phiếu bầu thiếu 1, phiếu bầu thiếu 2... so với số lượng cần bầu. Từng loại được kẹp riêng để tránh nhầm lẫn. Ghi kết quả phân loại phiếu vào biểu mẫu 1.

 - Bước 4: Tiến hành kiểm phiếu, lần lượt từng loại đã được phân loại ở bước 3. Nên tiến hành kiểm ngược, chỉ ghi những trường hợp không được bầu. Mỗi người trong danh sách bầu cử không được bầu được ký hiệu bằng 01 nét gạch ( ─,│), cho đến khi được 5 gạch (           ) thì chuyển sang hình mới để dễ cộng tổng.

          - Bước 5: Sau khi thực hiện xong việc kiểm phiếu, các nhóm cộng tổng các kết quả và điền số liệu đầy đủ vào biểu mẫu 1. Kiểm tra kết quả kiểm phiếu của nhóm theo hướng dẫn tại phần I.

          - Bước 6: Trưởng Ban kiểm phiếu thực hiện việc cộng tổng kết quả kiểm phiếu của các nhóm (theo mẫu 2). Kiểm tra kết quả kiểm phiếu theo hướng dẫn tại phần II, hướng dẫn này. Hoàn thiện biên bản kiểm phiếu.

II. CỞ SỞ, PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA KẾT QUẢ KIỂM PHIẾU

1. Cơ sở để kiểm tra kết quả kiểm phiếu

* Bước 1:  Tính tổng số lượt đồng ý bầu trên cơ sở phân loại phiếu bầu:

- Giả sử A1, A2, A3, …, An là số người trong danh sách bầu cử; số lượng người cần bầu là B. Trong mỗi phiếu bầu, mỗi người được bầu được coi là 1 lượt đồng ý bầu.

          - Gọi N0 là số phiếu bầu đủ số lượng cần bầu → số lượt đồng ý bầu là: N0 x B.

          - Gọi N1 là số phiếu bầu bầu thiếu 1 so với số lượng cần bầu → số lượt đồng ý bầu là: N1 x (B - 1).

          - Gọi N2 là số phiếu bầu bầu thiếu 2 so với số lượng cần bầu → số lượt đồng ý bầu là: N2 x (B - 2).

          - …………………………………………………………………

          - Gọi Ni là số phiếu bầu chỉ bầu cho 1 người → số lượt đồng ý bầu là: Ni x 1.

Ta có tổng số lượt đồng ý bầu là:

X = N0 x B + N1 x (B - 1) + N2 x (B - 2) + …+ Ni x 1

* Bước 2: Tính tổng số lượt đồng ý bầu trên cơ sở kết quả kiểm phiếu:

Giả sử, sau khi kiểm phiếu có kết quả như sau:

          - Đồng chí A1 được y1 phiếu đồng ý;

          - Đồng chí A2 được y2 phiếu đồng ý;

          - Đồng chí A3 được y3 phiếu đồng ý;  →  được tổng Y = y1 + y2 + y3 + … + yn

          - ………………………………..……

          - Đồng chí An được yn phiếu đồng ý;

          * Bước 3:  So sánh tổng X và tổng Y:

- Nếu X = Y: Kiểm phiếu đúng.

- Nếu X khác Y: Kiểm phiếu sai.

2. Ví dụ

Đại hội Quận đoàn 1, khi bầu cử Ban Chấp hành có mặt 150 đại biểu. Số lượng Ban Chấp hành nhiệm kỳ 2012 – 2017 là 15 đồng chí; Đại hội chốt danh sách bầu cử là 18 đồng chí. Tổng số phiếu phát ra là 150 phiếu; thu về 150 phiếu; số phiếu hợp lệ là 150 phiếu; số phiếu không hợp lệ là 0 phiếu.

* Kiểm tra kết quả kiểm phiếu như sau:

- Bước 1: Sau khi phân loại phiếu bầu, ta có kết quả như sau:

Phân loại phiếu bầu

Số lượng phiếu

Số lượt đồng ý

Phiếu bầu đủ 15 người

43

15 x 43

=

645

Phiếu bầu thiếu 1 người

25

(15-1) x 25

=

350

Phiếu bầu thiếu 2 người

20

(15-2) x 20

=

260

Phiếu bầu thiếu 3 người

15

(15-3) x 15

=

180

Phiếu bầu thiếu 4 người

13

(15-4) x 13

=

143

Phiếu bầu thiếu 5 người

8

(15-5) x 8

=

80

Phiếu bầu thiếu 6 người

6

(15-6) x 6

=

54

Phiếu bầu thiếu 7 người

5

(15-7) x 5

=

40

Phiếu bầu thiếu 8 người

3

(15-8) x 3

=

21

Phiếu bầu thiếu 9 người

4

(15-9) x 4

=

24

Phiếu bầu thiếu 10 người

2

(15-10) x 2

=

10

Phiếu bầu thiếu 11 người

3

(15-11) x 3

=

12

Phiếu bầu thiếu 12 người

1

(15-12) x 1

=

3

Phiếu bầu thiếu 13 người

1

(15-13) x 1

=

2

Phiếu bầu thiếu 14 người

1

(15-14) x 1

=

1

Tổng X

150

 

 

1.825

 

- Bước 2: Sau khi kiểm phiếu, kết quả cụ thể như sau:

­­­­

TT

Họ tên

Số phiếu tán thành

1

Người thứ 1

150

2

Người thứ 2

139

3

Người thứ 3

135

4

Người thứ 4

134

5

Người thứ 5

129

6

Người thứ 6

126

7

Người thứ 7

121

8

Người thứ 8

118

9

Người thứ 9

115

10

Người thứ 10

111

11

Người thứ 11

105

12

Người thứ 12

98

13

Người thứ 13

84

14

Người thứ 14

77

15

Người thứ 15

76

16

Người thứ 16

50

17

Người thứ 17

31

18

Người thứ 18

26

Tổng số Y

1.825

 

* Kết luận: X = Y = 1.825, như vậy kết quả kiểm phiếu đúng.

 

 

 

 

Hình chữ nhật góc tròn: THANH NIÊN VÀ NGHỀ NGHIỆP  

 

 

 

Lãnh đạo giỏi là người biết xây dựng niềm tin

Niềm tin cho phép lãnh đạo giỏi chỉ việc giao phó công việc mà không cần phải suy nghĩ, lo lắng xem công việc đó có chắc được hoàn thành tốt hay không. Niềm tin thúc đẩy giao tiếp cởi mở, hiệu quả hơn và giúp nhân viên cảm thấy mình thực sự thuộc về công ty/tổ chức.
Tuy nhiên, niềm tin không phải là yếu tố có thể hiển hiện một cách tự nhiên và dễ dàng. Nhiệm vụ của nhà lãnh đạo là phải truyền cảm hứng và tạo ra niềm tin đó trong môi trường làm việc của đội ngũ.
Sau đây là những “bí kíp” của các nhà lãnh đạo hàng đầu trong doanh giới:
1.Kiên nhẫn
Khi doanh nghiệp còn ở giai đoạn khởi đầu, nhiều doanh nhân muốn thúc đẩy mọi thứ đi nhanh hết mức có thể, nhưng điều này có thể tạo nên môi trường kém thoải mái cho nhân viên. Áp lực làm việc là yếu tố cần thiết nhưng quá nhiều áp lực dễ khiến nhân viên cảm thấy mình vô giá trị trừ khi phải đạt được một mục tiêu “thần kỳ” nào đó.
Sự thiếu kiên nhẫn cũng có thể khiến nhân viên nghi ngờ về động cơ làm việc cũng như khả năng dẫn dắt đội ngũ của lãnh đạo. Vì vậy, hãy thoải mái trong suy nghĩ, hành động và thể hiện sự hiểu biết khi có sai sót xảy ra.
2.Bình tĩnh
Lãnh đạo là người sẽ phải đối mặt với những khoảnh khắc mang tính thách thức cảm xúc, thường trực tiếp đến từ hành động của nhân viên. Trong những lúc đó, lãnh đạo có thể bày tỏ cảm xúc một cách tự do, ngay cả những cảm xúc tiêu cực, nhưng nên ở trong giới hạn có thể kiểm soát.
Bởi khi lãnh đạo thể hiện cảm xúc một cách mạnh mẽ đến mức mất kiểm soát, nhân viên sẽ cảm thấy họ là người không vững vàng. Họ sẽ sợ phải báo cáo về những thông tin, tình hình xấu, đồng thời niềm tin đối với môi trường làm việc cũng sẽ sụt giảm.
3.Minh bạch
Lãnh đạo hãy minh bạch càng nhiều càng tốt trong từng hành động, để nhân viên biết những gì lãnh đạo đang suy nghĩ, những động lực thúc đẩy họ lèo lái công ty theo một định hướng cụ thể và bất kỳ nỗi nghi ngờ cũng như mối quan tâm nào.
Nhà lãnh đạo đóng vai trò như một hình mẫu cho nhân viên, họ càng hành động minh bạch bao nhiêu, nhân viên cũng sẽ càng minh bạch bấy nhiêu. Nhờ đó, họ cũng chiếm được nhiều tình cảm hơn từ nhân viên.
4.Cởi mở
Để xây dựng niềm tin, những nhà lãnh đạo giỏi luôn thiết lập một môi trường mở để khuyến khích tất cả nhân viên thể hiện suy nghĩ, ý kiến riêng. Họ luôn tạo điều kiện để mọi nhân viên được lên tiếng và đảm bảo những thành viên còn lại phải thể hiện sự tôn trọng và tất cả mọi người đều lắng nghe nhau.
5.Linh hoạt
Thể hiện một chút linh hoạt ở nơi làm việc cũng có thể góp phần xây dựng niềm tin hiệu quả, chẳng hạn như cung cấp thêm ngày nghỉ, những giờ làm việc linh hoạt, làm việc từ xa... Khi nhân viên cảm thấy thoải mái hơn ở chỗ làm, họ sẽ làm việc như thể đó là ngôi nhà thứ hai và đối xử với đồng nghiệp như những thành viên trong gia đình.
6.Phản hồi đa chiều
Khi lãnh đạo phản hồi thẳng thắn với nhân viên (dù tích cực hay tiêu cực, chỉ cần mang tính xây dựng), họ cho thấy mình thật sự quan tâm đến sự phát triển của nhân viên. Khi nhân viên đưa ra phản hồi với lãnh đạo và nhận được sự lắng nghe chân thành, họ sẽ cảm thấy được trao quyền nhiều hơn. Cách trao – nhận thông tin này sẽ tạo tiền đề để việc phản hồi hiệu quả hơn trong những vấn đề lớn hơn, quan trọng hơn.
7.Tạo điều kiện cho nhân viên tăng cường tương tác với nhau
Lòng tin trong nhân viên được xây dựng dựa trên sự tương tác hiệu quả với nhau, nhưng không nhất thiết phải luôn trong công việc mà có thể trong những khoảng thời gian bên ngoài văn phòng như những hoạt động xây dựng tinh thần đội nhóm (teambuilding), trong giờ ăn trưa, những buổi trò chuyện sau giờ làm… Bởi vì để tin tưởng và hỗ trợ đồng nghiệp mình, trước tiên, nhân viên cần có cơ hội tìm hiểu và quan tâm lẫn nhau dưới góc độ cá nhân.

 

 

Trang thông tin Hội LHTN Việt Nam

 

 

 

 

Hình chữ nhật góc tròn: BÀI HÁT THANH NIÊN  

 


Trong tài liệu sinh hoạt chi Đoàn số tháng 02/2017, chúng tôi xin gửi đến các bạn đoàn viên thanh niên lời bài hát “Tuổi trẻ thế hệ Bác Hồ” - Sáng tác:

Tuổi trẻ thế hệ Bác Hồ

Sáng tác: Triều Dâng

Từ biển khơi đến miền rừng núi cao 
Cờ Đoàn ta mang ảnh Bác với tên người vĩ đại 
Hồ Chí Minh công ơn của Bác như biển trời 
Tình Người ấm trong tim ta trên đường tranh đấu 

Vì đất nước ta ra đi xây đời hạnh phúc 
Cho mai sau thỏa lòng mong ước của Bác Hồ đêm ngày hằng mong 
Vì đất nước ta ra đi xây đời hạnh phúc 
Cho mai sau thỏa lòng mong ước của Bác Hồ đêm ngày hằng mong 

Là thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh 
Vì ngày mai ta xây đắp những công trình vĩ đại 
Đồng lúa trĩu bông quê ta nhà máy khói ngút trời 
Cả tổ quốc trong tương lai ánh điện tỏa sáng 

Là công sức ta xây nên đất trời tổ quốc 
Thêm xanh tươi thỏa lòng mong ước của Bác Hồ đêm ngày hằng mong 
Là công sức ta xây nên đất trời tổ quốc 
Thêm xanh tươi thỏa lòng mong ước của Bác Hồ đêm ngày hằng mong

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình chữ nhật góc tròn: ĐỊNH HƯỚNG SINH HOẠT CHI ĐOÀN  

 

 


1. Tuyên truyền ý nghĩa ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 42 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

2. Tuyên truyền,tập trung giới thiệu những thành quả, sự cống hiến của tổ chức Đoàn, của các thế hệ cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh niên trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể; giới thiệu các điển hình đoàn viên tiêu biểu, các công trình thanh niên, phần việc thanh niên hiệu quả…

3. Tuyên truyền Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và tuyên truyền các nội dung khác gắn với việc học tập, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các Nghị quyết và chương trình hành động gắn với phát động phong trào thi đua yêu nước trong cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi, nhằm chào mừng Đại hội đại biểu tỉnh Thái Nguyên lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2017 - 2022.

4. Nắm bắt diễn biến tình hình, tư tưởng trong đoàn viên thanh niên và dư luận xã hội trong đoàn viên thanh niên; tham mưu với cấp uỷ Đảng, chính quyền và phối hợp với đoàn thể địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh, định hướng dư luận xã hội, xử lý các vấn đề bức xúc trong đoàn viên thanh niên, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội.

5. Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 05- CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".

6. Tuyên truyền công tác chuẩn bị Đại hội Đoàn các cấp cơ sở và công tác chuẩn bị Đại hội Đoàn cấp huyện và tương đương.

7.  Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục của Đoàn, trong đó tăng cường triển khai kế hoạch hành động thực hiện chỉ thị 42 CT/TW, ngày 24/3/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030”.

8. Bên cạnh đó BCH các chi Đoàn lồng ghép lựa chọn những nội dung, hình thức sinh hoạt phù hợp với chi đoàn như: kỷ niệm 42 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Thư viện ảnh